Sửa trang
Thời gian render trang: 19/10/2026 14:08:33.506

Hình Thức Thanh Toán


Tìm hiểu các hình thức thanh toán như tiền mặt, chuyển khoản, thẻ và ví điện tử để chọn cách tiện và phù hợp với bạn.
undefined

Nguyên tắc xác định khoản đặt trước

Khoản đặt trước được xác định theo từng mặt hàng, báo giá và thỏa thuận, với các mức 30%, 50%, 70%, 90% hoặc 100%; không tự động tăng theo giá trị đơn hàng. Báo giá cần nêu rõ hạng mục tính tiền, tỷ lệ áp dụng, số tiền bằng đồng Việt Nam và thời điểm thanh toán. Với kính gia công, phải duyệt kích thước, bản vẽ và trách nhiệm đo đạc trước khi sản xuất. Cần phân biệt đặt cọc nhằm bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng với thanh toán trước tiền hàng; cách xử lý khi thay đổi, hủy đơn phải được thỏa thuận. Lưu chứng từ, xác nhận để đối chiếu sau này.


Tỷ lệ thanh toán gắn với từng mặt hàng và giá trị đơn hàng

Tiến Kính Glass áp dụng các mức đặt trước 30% – 50% – 70% – 90% – 100% tùy mặt hàng và giá trị đơn hàng. Đây là những mức có thể được lựa chọn khi xác nhận giao dịch, không phải bảng tỷ lệ tự động tăng theo tổng tiền. Hai đơn hàng cùng giá trị vẫn có thể có điều kiện thanh toán khác nhau: một đơn sử dụng kính có sẵn, nhận tại kho; đơn còn lại yêu cầu kính màu, kích thước riêng, khoan lỗ và giao đến công trình. Tỷ lệ áp dụng, số tiền tương ứng bằng đồng Việt Nam và thời điểm thanh toán cần được ghi rõ trên báo giá, xác nhận đơn hàng hoặc thỏa thuận tương đương.

Trước khi tính khoản đặt trước, các bên cần xác định giá trị nào được dùng làm căn cứ. Báo giá nên tách hoặc mô tả rõ tiền kính, gia công cạnh, khoan hoặc khoét, phụ kiện, vận chuyển, bốc xếp, lắp đặt và thuế áp dụng; đồng thời nêu hạng mục nào đã bao gồm trong đơn giá. Chẳng hạn, một báo giá giao kính tại điểm hẹn không thể mặc nhiên được hiểu là đã bao gồm chi phí đưa kính lên tầng cao. Nếu chi phí vận chuyển hoặc thi công chưa thể xác định ngay, cần ghi đó là khoản báo riêng, thay vì cộng vào số tiền đặt trước theo một ước tính chưa được khách hàng chấp thuận.

Cách tính cũng phải nhất quán khi đơn hàng có nhiều hạng mục. Nếu toàn bộ giá trị đã thống nhất là 42.000.000 đồng và mức thanh toán trước là 50%, khoản cần chuyển là 21.000.000 đồng. Tuy nhiên, nếu hai hạng mục lần lượt có giá trị 18.000.000 đồng áp dụng 30% và 24.000.000 đồng áp dụng 70%, tổng tiền trả trước là 5.400.000 đồng cộng 16.800.000 đồng, tức 22.200.000 đồng — không phải 50% của toàn đơn. Ví dụ này cho thấy việc chỉ ghi “đặt trước theo tỷ lệ” mà không nêu phạm vi tính có thể dẫn đến chênh lệch khi đối chiếu thanh toán.

Đối với kính đặt làm, khoản trả trước thường gắn với việc chuẩn bị vật tư và đưa sản phẩm vào quy trình gia công. Trước mốc bắt đầu sản xuất, các bên nên chốt số lượng, chiều dài, chiều rộng, độ dày, loại và màu kính, kiểu xử lý cạnh, vị trí khoan hoặc khoét, dung sai cần đáp ứng cùng bản vẽ được sử dụng để thực hiện. Cần xác định kích thước ghi trên bản vẽ là kích thước ô chờ, kích thước phủ bì hay kích thước tấm kính thành phẩm; nhầm lẫn giữa các cách đo này có thể khiến sản phẩm không lắp vừa dù số đo được chép đúng.

Với kính cường lực, các thao tác như cắt, khoan và khoét thông thường phải hoàn tất trước công đoạn cường lực; tấm kính đã cường lực không thể tùy ý cắt hoặc khoan lại như kính phôi. Vì vậy, tăng tỷ lệ đặt trước không thay thế được bước rà soát bản vẽ. Nếu công trình có tường hoặc khung không vuông, nhiều vị trí lắp đặt hay cần chừa khe cho phụ kiện, người mua nên xác nhận rõ ai chịu trách nhiệm đo thực tế và thông số nào được ưu tiên khi số liệu hiện trường khác bản vẽ. Một xác nhận bằng văn bản trước sản xuất giúp giảm tranh cãi về nguyên nhân sai lệch.

Thời điểm chuyển tiền cũng cần gắn với một mốc công việc có thể kiểm tra. Chứng từ có thể nêu thời hạn hiệu lực của báo giá, hạn thanh toán, thời điểm xác nhận đã nhận tiền và điều kiện để bắt đầu gia công. Khi chuyển khoản, khách hàng nên sử dụng đúng thông tin người nhận trên chứng từ đã thống nhất và ghi nội dung đủ nhận diện, chẳng hạn mã đơn hàng hoặc tên khách hàng. Biên lai chuyển tiền không tự xác nhận mọi thông số kỹ thuật đã được duyệt; bản vẽ, danh mục hạng mục và nội dung xác nhận đơn vẫn cần được lưu riêng để đối chiếu.

Phân biệt tiền đặt cọc với khoản thanh toán trước

Trong giao tiếp, “đặt tiền”, “đặt cọc” và “thanh toán trước” có thể được dùng thay nhau, nhưng bản chất pháp lý phụ thuộc vào mục đích và nội dung thỏa thuận, không chỉ vào cách gọi. Theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia tiền hoặc tài sản theo quy định trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Ngược lại, thanh toán trước thường là việc trả sớm một phần hoặc toàn bộ tiền hàng theo tiến độ đã thỏa thuận. Không nên mặc nhiên áp dụng hậu quả pháp lý của đặt cọc cho mọi khoản chuyển trước chỉ vì nội dung chuyển khoản có chữ “cọc”.

Với khoản được xác lập là đặt cọc, nếu hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại hoặc trừ vào nghĩa vụ trả tiền. Nếu bên đặt cọc từ chối giao kết hoặc thực hiện hợp đồng, tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận cọc; nếu bên nhận cọc từ chối, bên đó phải trả lại tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Việc một đơn hàng bị chậm, phải sửa thông số hoặc không thể tiếp tục không đồng nghĩa tự động với “mất cọc” hay “đền cọc”. Cần xem nghĩa vụ cụ thể, nguyên nhân phát sinh, nội dung thỏa thuận và chứng cứ của từng tình huống.

Chứng từ nên ghi “đặt cọc bảo đảm thực hiện đơn hàng” khi các bên thực sự thống nhất cơ chế bảo đảm; nếu tiền chỉ được trả theo tiến độ, cách ghi “thanh toán trước một phần giá trị đơn hàng” sẽ rõ hơn. Với mức 100% trước khi giao hàng, “thanh toán trước toàn bộ giá trị đơn hàng” thường thể hiện chính xác việc người mua đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán, nhưng chưa đồng nghĩa người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng. Nếu các bên muốn dùng khoản tiền đó làm đặt cọc, điều khoản cần giải thích rõ cách xử lý khoản tiền và nghĩa vụ nào được bảo đảm, tránh vừa gọi toàn bộ là tiền hàng vừa áp dụng chế tài đặt cọc một cách mâu thuẫn.


Điều kiện thay đổi hoặc hủy đơn nên được thống nhất trước khi gia công: thời điểm nào còn được sửa bản vẽ, thay đổi nào phải báo giá lại, chi phí vật tư hoặc công đoạn đã thực hiện được xử lý ra sao và số tiền còn lại thanh toán khi nào. Nếu phát sinh phụ phí, cần có căn cứ và sự xác nhận trước khi thực hiện phần việc bổ sung. Khách hàng nên lưu báo giá, bản vẽ đã duyệt, xác nhận đơn, chứng từ chuyển tiền và trao đổi về thay đổi hoặc hủy đơn. Những tài liệu này giúp xác định chính xác khoản đã trả là tiền cọc hay tiền hàng, phạm vi công việc đã chốt và trách nhiệm của mỗi bên khi đối chiếu sau này.

Cách áp dụng các mức 30%, 50%, 70%, 90% và 100%

Các mức trả trước 30%, 50%, 70%, 90% và 100% phải tính trên giá trị đơn hàng đã chốt, gồm thuế, phí và giảm giá theo thỏa thuận. Với đơn 10 triệu đồng, số tiền còn trả lần lượt là 7, 5, 3, 1 và 0 triệu đồng. Dù thanh toán ở mức nào, cần ghi rõ quy cách sản phẩm, chứng từ thanh toán, thời điểm thu tiền và tình trạng hàng khi giao; trả đủ không làm mất quyền phản ánh sai lệch. Khi phát sinh hoặc giảm giá, số dư bằng giá trị mới được chấp thuận trừ số tiền đã nhận. Hai bên nên lưu xác nhận điều chỉnh và biên bản giao nhận cùng mã đơn hàng.

Đối chiếu tỷ lệ với phần tiền còn lại

Trước khi tính tiền trả trước, hai bên cần xác định rõ “giá trị phải thanh toán” là khoản nào: giá trị tiền hàng đã gồm hay chưa gồm thuế, phí vận chuyển, phí lắp đặt và các khoản giảm giá. Tỷ lệ chỉ có ý nghĩa khi áp dụng trên cùng một cơ sở tính đã được xác nhận trong báo giá hoặc đơn hàng. Nếu có nhiều lần thanh toán, công nợ tại một thời điểm được xác định bằng giá trị đơn hàng đã chốt, cộng hoặc trừ các điều chỉnh được chấp thuận, rồi trừ tổng số tiền bên bán đã thực nhận. Không nên lấy tỷ lệ phần trăm nhân với một báo giá cũ khi giá trị đơn hàng đã thay đổi.

Với đơn hàng giả định trị giá 10.000.000 đồng, không có chi phí phát sinh, giảm giá hoặc điều chỉnh khác, phép tính là: tiền trả trước = 10.000.000 đồng × tỷ lệ trả trước; tiền trả khi nhận hàng bằng 10.000.000 đồng trừ tiền đã trả. Bảng chỉ minh họa cách đối chiếu, không phải báo giá hoặc cam kết rằng mọi sản phẩm của Tiến Kính Glass đều áp dụng được các tỷ lệ này.

Tỷ lệ trả trước Số tiền trả trước Số tiền thanh toán khi nhận hàng
30%3.000.000 đồng7.000.000 đồng
50%5.000.000 đồng5.000.000 đồng
70%7.000.000 đồng3.000.000 đồng
90%9.000.000 đồng1.000.000 đồng
100%10.000.000 đồng0 đồng

Ở mức 30%, khách hàng còn phải thanh toán 70% khi nhận hàng theo ví dụ trên. Vì đây là khoản lớn hơn phần đã trả, cần xác nhận trước thời điểm thu tiền, tài khoản hoặc hình thức thanh toán được chấp nhận và người có thẩm quyền nhận tiền. Nếu thanh toán bằng chuyển khoản tại nơi giao, hai bên nên thống nhất cách xác nhận giao dịch đã hoàn tất; ảnh chụp lệnh chuyển tiền chưa phải lúc nào cũng chứng minh bên nhận đã nhận được tiền. Biên nhận hoặc bảng đối chiếu cần ghi số tiền cụ thể, không chỉ ghi “đã đặt trước 30%”.

Mức 50% tạo hai khoản bằng nhau khi giá trị đơn hàng không đổi, nhưng không đồng nghĩa với việc có thể ghi đơn hàng sơ lược. Chứng từ xác nhận vẫn cần thể hiện loại kính, quy cách, số lượng, đơn giá hoặc giá trị từng hạng mục, thời gian và địa điểm giao dự kiến. Nếu hàng được giao thành nhiều đợt, hai bên nên thống nhất khoản nào đến hạn ở từng đợt; không tự mặc định rằng nhận một nửa số tấm kính thì phải thanh toán đúng một nửa số dư, bởi các tấm có thể khác kích thước, độ dày hoặc công đoạn gia công.

Với mức 70%, số dư theo bảng là 3.000.000 đồng. Đối với đơn gồm nhiều loại kính hoặc có phụ kiện, bảng kê theo hạng mục giúp xác định hàng nào đã giao, hàng nào chưa giao và số tiền tương ứng nếu cần đối chiếu từng phần. Trường hợp phát sinh giao thiếu, đổi quy cách hoặc lùi một phần lịch giao, các bên nên ghi rõ tình trạng thực tế và cách xử lý số tiền còn lại, thay vì sửa tổng công nợ chỉ dựa trên tỷ lệ trả trước ban đầu.

Ở mức 90%, dù số dư chỉ còn 1.000.000 đồng trong ví dụ, khách hàng vẫn cần kiểm tra số lượng kiện hoặc tấm, tình trạng có thể quan sát khi nhận và đối chiếu nhãn, mã hàng hoặc thông số trên chứng từ với đơn đã chốt. Mức đã thanh toán cao không thay thế việc kiểm tra và ghi nhận sai lệch. Tỷ lệ áp dụng cho mỗi giao dịch cần được xác nhận riêng; việc từng thanh toán 30%, 50%, 70% hoặc 90% ở đơn trước không có nghĩa đơn mới tự động được dùng cùng tỷ lệ.

Trường hợp đã thanh toán trước toàn bộ giá trị

Trả trước 100% nghĩa là toàn bộ giá trị tiền hàng theo nội dung đã xác nhận được thanh toán trước khi nhận. Với ví dụ trong bảng, chứng từ giao nhận phải thể hiện khách hàng đã trả 10.000.000 đồng và số dư tiền hàng là 0 đồng. Cách diễn đạt “sau khi nhận hàng thanh toán hết 100% tại chỗ”, nếu xuất hiện trong quy trình chung, phải được hiểu là tổng số tiền đã thanh toán đạt 100% nghĩa vụ tương ứng, không phải nộp thêm một lần 100% sau khi đã trả đủ.


Thanh toán toàn bộ trước khi giao càng đòi hỏi mô tả sản phẩm cụ thể: loại kính, độ dày, kích thước, số lượng, phương án gia công cạnh hoặc khoan khoét, phụ kiện nếu có, địa điểm nhận và thời gian giao dự kiến. Với kính gia công theo kích thước riêng, nên lưu bản vẽ hoặc bảng thông số đã được hai bên xác nhận, đồng thời làm rõ thời điểm chốt quy cách. Nếu muốn thay đổi sau thời điểm đó, khách hàng cần được thông báo khả năng thực hiện, tác động đến lịch giao và chi phí tăng hoặc giảm để chấp thuận trước; không nên chỉ thông báo một khoản thu thêm khi giao hàng.

Khi nhận đơn đã trả đủ, khách hàng vẫn đối chiếu hàng thực tế với chứng từ: số lượng, kích thước hoặc ký hiệu quy cách có thể kiểm tra, tình trạng bao gói và dấu hiệu sứt mẻ, nứt vỡ có thể quan sát. Nếu chưa thể kiểm tra toàn bộ do hàng còn đóng kiện hoặc cần dụng cụ đo, biên bản giao nhận nên ghi đúng phạm vi đã kiểm tra, thay vì xác nhận chung rằng mọi thông số đều phù hợp. Việc trả trước 100% không làm mất quyền phản ánh hàng giao không đúng thỏa thuận; cách xử lý cần căn cứ nội dung đơn hàng, tình trạng ghi nhận khi giao và thỏa thuận giữa các bên.

Nếu khách hàng bổ sung hạng mục trước khi giao, khoản phải trả được tính từ giá trị mới đã được chấp thuận trừ số tiền thực tế đã thanh toán. Chẳng hạn, đơn ban đầu 10.000.000 đồng đã trả 7.000.000 đồng; phụ kiện bổ sung giá 500.000 đồng làm giá trị mới thành 10.500.000 đồng, nên số dư là 3.500.000 đồng. Không tính lại máy móc 30% trên giá trị mới để thay cho bước đối chiếu công nợ. Xác nhận điều chỉnh nên nêu giá trị ban đầu, nội dung phát sinh, khoản tăng hoặc giảm, số tiền đã nhận và số dư sau điều chỉnh.

Nếu bên bán đề nghị thu thêm vì vận chuyển, lắp đặt hoặc lý do khác, khách hàng có thể yêu cầu chỉ rõ khoản đó đã nằm trong báo giá hay chưa, căn cứ tính tiền và thời điểm hai bên chấp thuận. Ngược lại, nếu một hạng mục bị hủy hoặc được giảm giá theo thỏa thuận, bảng đối chiếu cũng phải phản ánh khoản giảm; khi số tiền đã trả vượt giá trị cuối cùng, hai bên cần xác nhận số tiền chênh lệch và phương án xử lý. Chứng từ thanh toán, xác nhận điều chỉnh và biên bản giao nhận nên dùng cùng mã đơn hàng để hạn chế nhầm lẫn giữa tiền hàng, khoản phát sinh và số dư phải trả.

Quy trình xác nhận đơn hàng và thanh toán

Trước khi trả trước, khách hàng cần đối chiếu báo giá, bản vẽ sản xuất và điều kiện giao nhận với thỏa thuận cuối cùng. Thông tin kính phải rõ loại, cấu tạo, kích thước và vị trí gia công; mọi thay đổi cần được phê duyệt, cập nhật chi phí và tiến độ. Tiền trả trước và số dư phải tính trên tổng giá trị đơn hàng đã xác nhận, với mốc thanh toán cụ thể. Khi chuyển tiền, nên ghi mã đơn và lưu chứng từ xác nhận đã nhận tiền. Trước khi tất toán, hai bên đối chiếu tiền đã trả, khoản phát sinh được duyệt và số dư. Người có thẩm quyền kiểm hàng, ghi nhận sai khác, ký biên bản; đơn đã thanh toán đủ không bị thu lại tiền hàng.

Kiểm tra báo giá trước khi chuyển tiền

Trước khi trả trước, khách hàng nên đối chiếu báo giá với nội dung đã trao đổi và yêu cầu thể hiện rõ tên người mua, thông tin liên hệ, mã đơn, địa điểm giao hàng và thời hạn hiệu lực của giá. Từng hạng mục cần có tên sản phẩm, đơn vị tính, số lượng, đơn giá và thành tiền; các khoản vận chuyển, bốc dỡ, khảo sát, lắp đặt và thuế, nếu có, nên được tách riêng hoặc ghi rõ đã bao gồm trong giá. Tổng giá trị dùng để tính tiền trả trước phải là tổng giá trị đã được hai bên xác nhận, không chỉ là giá kính trước các chi phí liên quan.

Với kính gia công, mô tả “kính 10 ly” thường chưa đủ để sản xuất và nghiệm thu. Báo giá hoặc bản vẽ kèm theo nên xác định loại kính thường, kính cường lực hay kính dán an toàn; độ dày hoặc cấu tạo từng lớp; chiều rộng, chiều cao và số lượng của từng tấm. Kích thước cần dùng thống nhất đơn vị milimét và thể hiện rõ đâu là kích thước sản xuất, đâu là kích thước ô chờ tại công trình. Nếu yêu cầu mài cạnh, khoan lỗ, khoét góc hoặc tạo hình, cần ghi quy cách và vị trí bằng kích thước có thể kiểm tra trên bản vẽ. Vị trí lỗ khoan hay phần khoét không nên chỉ được xác nhận qua lời nói, vì sai lệch nhỏ có thể khiến tấm kính không lắp được.

Đặc biệt với kính cường lực, việc khoan, cắt hoặc thay đổi hình dạng thường phải hoàn tất trước công đoạn tôi kính; không nên mặc định có thể chỉnh sửa tấm đã sản xuất như kính thường. Đối với kính dán an toàn, cần làm rõ cấu tạo lớp kính và lớp xen giữa thay vì chỉ ghi một con số độ dày chung. Nếu báo giá có yêu cầu về màu sắc, độ trong, xử lý bề mặt hoặc phụ kiện đi kèm, các đặc điểm đó cũng cần được nhận diện trong phiên bản tài liệu cuối cùng. Không nên lấy bản phác thảo ban đầu làm căn cứ thanh toán khi bản vẽ sản xuất đã được điều chỉnh sau khảo sát.

Ở công trình có nhiều ô kính, cần xác định ai đo hiện trường, ai kiểm tra số đo và ai phê duyệt bản vẽ đưa vào gia công. Nếu khách hàng cung cấp kích thước, xác nhận đơn hàng nên chỉ rõ bộ số đo được sử dụng. Nếu bên bán khảo sát, kết quả nên được gửi lại để khách hàng kiểm tra các vị trí, số lượng và điều kiện lắp đặt. Mỗi lần điều chỉnh cần có ngày xác nhận hoặc mã phiên bản để tránh dùng nhầm bản vẽ cũ. Sau khi đã đặt vật tư hoặc gia công, việc đổi kích thước, vị trí lỗ hay loại kính có thể làm phát sinh chi phí; mức chi phí và tiến độ mới cần được hai bên chấp thuận trước khi thực hiện.

Trước khi chuyển tiền, khách hàng cần biết tỷ lệ trả trước áp dụng cho chính đơn hàng của mình, số tiền tương ứng, số dư dự kiến và thời điểm đến hạn. Các mức 30%, 50%, 70%, 90% hoặc 100% chỉ có ý nghĩa khi gắn với tổng giá trị và điều kiện thanh toán cụ thể. Chẳng hạn, đơn hàng trị giá 24 triệu đồng, không phát sinh điều chỉnh, nếu trả trước 30% thì số tiền trả trước là 7,2 triệu đồng và số dư là 16,8 triệu đồng. Nếu có lắp đặt, phải ghi rõ số dư được thanh toán khi giao kính đến địa điểm hay sau khi hoàn tất phần lắp đặt đã thỏa thuận; đây là hai mốc khác nhau.

Địa chỉ giao hàng cũng cần đủ cụ thể để tổ chức bàn giao: số tầng, lối vận chuyển, người liên hệ tại công trình, thời gian được phép giao và phương án đưa kính vào vị trí an toàn. Với tấm kính khổ lớn, cần xác nhận trước khả năng tiếp cận thang máy, cầu thang hoặc khu vực tập kết. Việc xe đến cổng công trình không đồng nghĩa hàng đã được bàn giao nếu người nhận chưa thể tiếp cận, kiểm đếm và tiếp nhận theo phương án đã thống nhất. Các điều kiện có thể làm thay đổi chi phí vận chuyển hoặc nhân công cần được nêu trước khi khách hàng xác nhận đơn.


Ghi nhận tiền đã trả và tất toán tại chỗ

Sau khi đơn hàng và mức trả trước được xác nhận, khách hàng nên thanh toán đúng số tiền trên chứng từ. Nội dung chuyển khoản cần có mã đơn hoặc tên khách hàng để dễ đối chiếu, thay vì chỉ ghi chung “tiền kính”. Chứng từ ghi nhận tiền nên thể hiện ngày giao dịch, số tiền, hình thức thanh toán, bên nhận tiền và đơn hàng liên quan. Nếu trả tiền mặt, khách hàng cần yêu cầu phiếu thu hoặc xác nhận đã nhận tiền. Ảnh chụp lệnh chuyển khoản chưa chứng minh tiền đã được nhận khi giao dịch vẫn đang xử lý, bị hủy hoặc bị ngân hàng từ chối; hai bên nên thống nhất cách xác nhận giao dịch hoàn tất.

Trước lúc giao, người phụ trách đơn hàng nên đối chiếu tổng giá trị đã xác nhận, các khoản điều chỉnh được chấp thuận, tổng tiền thực tế đã nhận và số dư phải thu. Nếu có phát sinh, chẳng hạn thêm tấm kính hoặc thay đổi phương án vận chuyển, cần lập xác nhận riêng nêu hạng mục, số tiền và người phê duyệt. Không nên cộng một khoản phát sinh vào số tiền thu tại công trình chỉ dựa trên trao đổi với người nhận hộ. Số dư thanh toán phải tính từ giá trị đơn hàng cuối cùng đã được chấp thuận, trừ đi toàn bộ tiền đã nhận, kể cả các lần chuyển khoản bổ sung.

Khi hàng đến, người có thẩm quyền kiểm đếm số kiện, số tấm, đối chiếu kích thước hoặc mã nhận diện theo khả năng kiểm tra tại điểm giao và ghi nhận tình trạng nhìn thấy được, như vỡ, sứt cạnh hoặc thiếu phụ kiện. Với kính đóng gói chưa thể kiểm tra toàn bộ bề mặt, biên bản nên nêu rõ phần đã kiểm tra và phần cần kiểm tra sau khi mở kiện theo thỏa thuận. Nếu đơn có lắp đặt, nội dung nghiệm thu và mốc thanh toán cần bám đúng điều kiện đã thống nhất, không tự động coi việc ký nhận kính là xác nhận hoàn tất lắp đặt.

Đơn không thay đổi giá trị được tất toán bằng đúng số dư trên chứng từ: trả trước 90% thì còn 10%, trả trước 30% thì còn 70%. Với đơn đã thanh toán 100%, khâu giao nhận tập trung vào kiểm tra, xử lý sai khác nếu có và ký nhận, không thu lại tiền hàng. Biên bản giao nhận hoặc xác nhận thanh toán nên ghi đồng thời tổng giá trị đơn, tổng tiền đã nhận trước khi giao, khoản thu tại điểm giao và số dư sau giao dịch. Cách ghi này giúp cả hai bên phát hiện ngay việc thu thiếu, thu trùng hoặc ghi nhầm tỷ lệ trả trước.

Người nhận hàng có thể khác người đặt mua và người thanh toán. Vì vậy, trước khi giao cần xác định ai được kiểm hàng, ký biên bản, xác nhận phát sinh và thực hiện thanh toán. Người nhận hộ có thể ghi nhận số lượng, tình trạng bên ngoài và thời điểm tiếp nhận, nhưng không nên tự phê duyệt tăng giá nếu không được ủy quyền. Trường hợp chuyển khoản tại điểm giao, hai bên cần chờ xác nhận theo phương thức đã thỏa thuận trước khi ghi đơn đã tất toán, đồng thời bố trí hàng kính ở vị trí an toàn trong thời gian chờ, tránh để kính chưa bàn giao chắn lối đi hoặc chịu nguy cơ va đập.


Phương thức trả tiền, chứng từ và bảo mật giao dịch

Trước khi thanh toán, khách hàng cần đối chiếu giá trị đơn hàng, khoản đã trả, số còn lại và người được phép nhận tiền; chỉ dùng phương thức được Tiến Kính Glass xác nhận. Khi chuyển khoản, kiểm tra tài khoản thụ hưởng, số tiền và mã đơn; nếu tài khoản thay đổi, hãy xác minh qua đầu mối tin cậy. Thanh toán tiền mặt cần chứng từ ghi rõ số tiền, thời điểm và người nhận. Lưu riêng chứng từ thanh toán, giao nhận và hóa đơn; không tiết lộ mật khẩu, OTP hoặc dữ liệu thẻ. Nếu số dư có sai lệch, cần đối chiếu tiền thực nhận và các điều chỉnh đã thống nhất trước khi trả thêm, hoàn tiền hoặc xác nhận công nợ.

Chọn cách thanh toán có thể kiểm chứng

Trước khi thanh toán đơn kính, khách hàng và Tiến Kính Glass nên thống nhất bằng một kênh có thể tra cứu lại: tổng giá trị đơn hàng, số tiền đã trả, số tiền còn lại, thời điểm thanh toán và người có quyền nhận tiền. Báo giá hoặc xác nhận đơn hàng cần thể hiện rõ quy cách kính, số lượng, đơn giá, chi phí vận chuyển, gia công hoặc lắp đặt nếu có. Cách này giúp phân biệt tiền hàng đã xác nhận với khoản phát sinh cần được chấp thuận riêng. Phương thức Tiến Kính Glass tiếp nhận cho từng đơn, đặc biệt là khoản trả tại nơi giao, cần được xác nhận trực tiếp; không nên suy đoán từ cách thanh toán của đơn trước.

Nếu thanh toán tiền mặt, các bên nên kiểm đếm cùng lúc tại địa điểm giao nhận. Người nhận tiền cần xác nhận số tiền thực nhận, ngày giờ, mã hoặc thông tin nhận diện đơn hàng và tên người nhận trên chứng từ; với khoản lớn, có thể ghi số tiền bằng số và bằng chữ để giảm nhầm lẫn. Khách hàng giữ một bản xác nhận hoặc ảnh chụp chứng từ rõ ràng. Trường hợp người giao hàng thu hộ, nên kiểm tra việc thu hộ đã được Tiến Kính Glass xác nhận. Việc giao hàng và việc thu tiền là hai sự kiện cần có dấu vết đối chiếu riêng, dù diễn ra cùng thời điểm.

Nếu chuyển khoản, khách hàng kiểm tra tên người thụ hưởng, số tài khoản, ngân hàng, số tiền và nội dung chuyển tiền theo thông tin đã được xác nhận qua đầu mối giao dịch đáng tin cậy. Nội dung nên có mã đơn hàng hoặc thông tin nhận diện đã thống nhất; tránh ghi quá chung như “tiền kính” nếu đang xử lý nhiều đơn. Trước khi bấm xác nhận, cần đọc lại thông tin hiển thị trên ứng dụng ngân hàng, nhất là khi nhập số tài khoản thủ công hoặc quét mã QR. Ảnh mã QR do người giao hàng gửi không tự chứng minh tài khoản nhận thuộc đơn vị bán hàng.

Mã QR, máy POS hay phương thức điện tử khác chỉ nên dùng khi Tiến Kính Glass xác nhận hỗ trợ giao dịch đó. Nếu tài khoản thụ hưởng thay đổi so với báo giá, xác nhận đơn hoặc lần thanh toán trước, khách hàng nên tạm dừng và gọi lại số liên hệ đã sử dụng từ đầu; không chỉ phản hồi ngay trong cuộc trò chuyện vừa thông báo thay đổi. Không chuyển tiền theo tài khoản mới chỉ dựa vào tin nhắn bất ngờ, ảnh chụp màn hình hay lời thúc giục phải thanh toán gấp. Với khoản ứng trước lớn, bước kiểm tra độc lập này đặc biệt quan trọng.

Các khoản trả trước cần được ghi đúng bản chất theo thỏa thuận: thanh toán một phần giá trị đơn hàng, đặt cọc hoặc khoản khác. Không nên tự gọi mọi khoản trả trước là “đặt cọc”, vì cách gọi có thể ảnh hưởng đến việc đối chiếu quyền và nghĩa vụ của các bên. Xác nhận thanh toán nên nêu khoản đó được trừ vào giá trị nào và khi nào thanh toán phần còn lại. Chẳng hạn, nếu giá trị đã thống nhất là 12.000.000 đồng và đã trả 4.000.000 đồng, số còn lại là 8.000.000 đồng, trừ khi có điều chỉnh được hai bên chấp thuận và ghi nhận.

Với khách hàng doanh nghiệp, bộ hồ sơ đối chiếu có thể gồm đơn đặt hàng, báo giá được chấp thuận, xác nhận điều chỉnh, chứng từ thanh toán, biên bản giao nhận và hóa đơn khi thuộc trường hợp phải lập. Chứng từ chuyển khoản không thay thế hóa đơn; hóa đơn cũng không tự chứng minh bên bán đã nhận đủ tiền. Thời điểm lập hóa đơn cần căn cứ vào tính chất giao dịch và quy định áp dụng, không mặc định là lúc nhận tiền đặt trước hoặc lúc thu đủ 100%. Doanh nghiệp nên cung cấp chính xác tên, mã số thuế, địa chỉ và thông tin nhận hóa đơn điện tử cần thiết, đồng thời kiểm tra sai sót sớm để việc điều chỉnh không làm chậm đối chiếu kế toán.

Bảo vệ thông tin và xử lý sai lệch thanh toán

Để xác nhận thanh toán, khách hàng không cần cung cấp mật khẩu ngân hàng, mã OTP, mã PIN, thông tin bảo mật thẻ hoặc quyền truy cập ứng dụng tài chính. Khi gửi ảnh chứng từ, có thể che số dư, giao dịch khác và phần dữ liệu cá nhân không phục vụ đối chiếu, nhưng vẫn giữ rõ ngày giờ, số tiền, tài khoản nhận và mã tham chiếu cần thiết. Chứng từ nên được gửi qua kênh trao đổi đã thống nhất, không đăng công khai ảnh chuyển khoản có họ tên, số tài khoản hoặc thông tin liên hệ. Nếu thanh toán qua POS, khách hàng cũng không nên để người khác chụp cả hai mặt thẻ.

Khi ứng dụng báo giao dịch thành công nhưng bên nhận chưa xác nhận tiền vào tài khoản, hai bên nên đối chiếu mã giao dịch, thời điểm, số tiền, tài khoản thụ hưởng và lịch sử khoản tiền thực nhận. Trạng thái hiển thị trên điện thoại người chuyển là căn cứ để tra soát, nhưng không nên một mình quyết định việc thu lại tiền hoặc kết luận đã thất lạc. Nếu chưa rõ nguyên nhân, khách hàng có thể liên hệ ngân hàng theo kênh chính thức để yêu cầu kiểm tra. Tránh tạo ngay giao dịch thứ hai chỉ vì bên nhận chưa thấy thông báo biến động số dư; khoản thanh toán lặp có thể phát sinh thêm việc hoàn trả.

Nếu chuyển sai nội dung hoặc chuyển thiếu, khách hàng nên cung cấp mã giao dịch và thông tin đơn hàng để bên nhận đối chiếu trước khi thực hiện khoản bổ sung. Nếu chuyển thừa, việc hoàn tiền cần dựa trên số tiền bên nhận đã thực nhận, danh tính người chuyển và phương thức hoàn phù hợp. Không hoàn sang một tài khoản mới chỉ theo yêu cầu từ tin nhắn chưa được xác minh, nhất là khi người yêu cầu không trùng với người chuyển. Các bên nên lưu lại xác nhận về số tiền phải hoàn, tài khoản hoàn và chứng từ hoàn tiền; khi có dấu hiệu bất thường, nên trao đổi với ngân hàng trước khi thao tác.

Trường hợp người giao hàng thông báo số dư khác báo giá, khách hàng nên yêu cầu bảng đối chiếu thể hiện giá trị ban đầu, từng khoản đã trả, điều chỉnh đã được chấp thuận và số dư tính lại. Ví dụ, nếu đơn 12.000.000 đồng đã trả 4.000.000 đồng nhưng người giao yêu cầu thêm 8.500.000 đồng, khoản chênh 500.000 đồng phải có căn cứ riêng, chẳng hạn dịch vụ bổ sung đã được thống nhất; không nên tự động gộp vào tiền hàng. Sai lệch do ghi nhầm nội dung chuyển khoản hoặc làm tròn có thể xử lý ngay sau khi kiểm tra chứng từ và tài khoản thực nhận.

Nếu phát sinh tranh chấp về khoản phí chưa được thống nhất, khách hàng và bên giao vẫn có thể ghi nhận riêng tình trạng kính, số lượng, quy cách và thời điểm giao trong biên bản giao nhận. Phần thanh toán đang chờ đối chiếu nên được ghi rõ là chưa thống nhất, kèm tài liệu cần kiểm tra và đầu mối xử lý. Không yêu cầu một bên ký xác nhận “đã thanh toán đủ” hoặc “còn nợ” một số tiền khi số liệu chưa được đối chiếu. Việc tách nội dung giao nhận khỏi nội dung thanh toán giúp mỗi chứng từ phản ánh đúng sự việc đã được các bên xác nhận.

Kiểm tra khi nhận hàng và điều chỉnh đơn hàng

Khi nhận kính, cần đối chiếu từng tấm với bản vẽ và chứng từ; kiểm tra kích thước, gia công, phụ kiện và hư hại trong điều kiện an toàn. Bất thường phải được ghi rõ trong biên bản, kèm hình ảnh và trạng thái chấp nhận hàng. Số dư thanh toán cần dựa trên phần hàng đạt yêu cầu, khoản trả trước và cách phân bổ đã thống nhất.

Thay đổi thông số, lịch hoặc địa điểm giao cần được xác nhận bằng văn bản, cùng chi phí và tiến độ mới. Đơn giao nhiều đợt cần chứng từ riêng; không nhầm giao hàng với nghiệm thu lắp đặt. Khi hủy đơn, việc hoàn hoặc khấu trừ tiền phụ thuộc tính chất khoản đã nhận, thỏa thuận và chi phí thực tế.

Đối chiếu sản phẩm trước khi hoàn tất số dư

Trước thời điểm giao, khách hàng nên chuẩn bị báo giá đã xác nhận, bản vẽ duyệt, danh sách tấm kính và thông tin khoản đã thanh toán. Khi xe đến, người nhận đối chiếu từng tấm theo mã hoặc vị trí lắp đặt, thay vì chỉ đếm tổng số. Nội dung cần kiểm tra gồm chiều dài, chiều rộng, số lượng, loại kính, độ dày, màu sắc, kiểu gia công cạnh, số lượng và vị trí lỗ khoan, khoét góc, cùng phụ kiện đi kèm. Với kính có nhiều lớp, lớp phủ hoặc yêu cầu kỹ thuật riêng, việc nhìn bằng mắt thường không đủ để xác nhận toàn bộ cấu tạo hay tính năng. Nên đối chiếu nhãn nhận diện, phiếu sản xuất, chứng từ kỹ thuật hoặc phương pháp kiểm tra đã thống nhất khi đặt hàng; không tự suy ra đặc tính chỉ từ màu sắc và vẻ ngoài.

Việc kiểm tra cần thực hiện tại nơi đủ sáng, nền ổn định và có khoảng trống thao tác. Kính phải được bốc dỡ bằng nhân lực, thiết bị và giá đỡ phù hợp với kích thước, khối lượng của tấm; không tự dựng tấm kính lớn vào tường hoặc kéo lê trên nền chỉ để chụp ảnh. Nếu bao bì che khuất bề mặt, hai bên nên thống nhất tấm nào được mở kiểm tra, người thực hiện và cách bảo quản sau khi mở. Quan sát có hệ thống bốn cạnh, các góc, vùng quanh lỗ khoan và hai mặt kính để ghi nhận nứt, vỡ, mẻ cạnh, trầy xước hoặc dấu hiệu bao gói bị va đập. Kích thước và dung sai phải so với bản vẽ, tiêu chuẩn hoặc thỏa thuận của đơn hàng, không kết luận sai quy cách chỉ bằng ước lượng.

Khi phát hiện bất thường, cần ưu tiên cách ly khu vực và giữ nguyên hiện trạng nếu tấm kính có nguy cơ rơi, vỡ. Biên bản giao nhận nên ghi mã tấm, vị trí dự kiến lắp, biểu hiện, số lượng bị ảnh hưởng và thời điểm phát hiện. Ảnh nên có một khung thể hiện toàn tấm và ảnh cận cảnh điểm nghi vấn, kèm thước đo nếu có thể thao tác an toàn. Cần phân biệt “đã nhận để bảo quản”, “đã kiểm tra và chấp nhận” với “chưa thể kiểm tra” hoặc “tạm chưa chấp nhận”: các cách ghi này phản ánh trạng thái khác nhau. Nếu chưa xác định được nguyên nhân hay trách nhiệm, biên bản chỉ nên mô tả hiện trạng và kế hoạch kiểm tra tiếp, tránh quy kết khi chưa có căn cứ.

Với đơn giao nhiều tấm, phần đạt yêu cầu và phần cần xử lý nên được liệt kê riêng, kèm đơn giá hoặc cách phân bổ giá trị đã thống nhất. Chẳng hạn, đơn gồm 10 tấm cùng đơn giá 1 triệu đồng, đã trả trước 6 triệu đồng; nếu 8 tấm được xác nhận phù hợp và 2 tấm tạm chờ đối chiếu, hai bên cần ghi rõ khoản 6 triệu đồng được phân bổ thế nào trước khi xác định số còn thu cho đợt này. Không mặc nhiên yêu cầu thanh toán đủ số dư của cả đơn, cũng không mặc nhiên giữ lại toàn bộ số dư chỉ vì có hai tấm cần kiểm tra. Chi phí vận chuyển, phụ kiện và lắp đặt, nếu tính riêng, cũng phải được đối chiếu theo điều khoản đã xác nhận.

Thay đổi thông số, giao hàng và hoàn trả tiền

Yêu cầu đổi kích thước, loại kính, độ dày, màu sắc, vị trí lỗ khoan hoặc phụ kiện nên được gửi bằng văn bản ngay khi phát sinh. Khả năng sửa đổi phụ thuộc công đoạn thực tế: trước khi cắt phôi có thể khác với sau khi tôi kính, ghép kính hoặc hoàn tất gia công. Ví dụ, lỗ khoan trên tấm đã tôi thường không thể bổ sung bằng cách khoan lại như kính chưa tôi; phương án có thể phải là sản xuất tấm mới. Tiến Kính Glass và khách hàng nên xác nhận bản vẽ phiên bản mới, tấm bị ảnh hưởng, phương án xử lý vật tư cũ, thời gian giao lại và chênh lệch giá trị đơn hàng trước khi tiếp tục sản xuất. Khoản đã trả trước cần được đưa vào phép đối chiếu, không tách khỏi báo giá điều chỉnh.

Khi thay đổi lịch hoặc địa điểm giao, xác nhận mới cần nêu ngày, khung giờ, người nhận, điều kiện tiếp cận xe, vị trí tập kết và trách nhiệm bốc xếp. Với kính khổ lớn, thay đổi sát giờ có thể khiến phương tiện đã bố trí không vào được công trình, thiếu nhân lực nâng hạ hoặc không có chỗ đặt giá kính an toàn. Nếu hàng phải lưu lại, hai bên cần xác định nơi lưu, thời gian dự kiến, rủi ro cần phòng ngừa và chi phí phát sinh có căn cứ thỏa thuận, nếu có. Không nên hiểu tiền trả trước là cam kết lưu kho vô thời hạn; ngược lại, nhà cung cấp cũng không nên tự tính phí lưu kho khi chưa có cơ sở áp dụng rõ ràng.

Đơn giao theo nhiều đợt cần có chứng từ riêng cho từng đợt: mã và số lượng tấm đã giao, tình trạng khi nhận, phụ kiện đi kèm, giá trị tương ứng, khoản tiền đã thu và số còn lại. Cách ghi này đặc biệt quan trọng khi một khoản thanh toán trước được dùng cho nhiều đợt hoặc một số tấm đang chờ thay thế. Nếu đơn có lắp đặt, cần xác định từ đầu mốc thanh toán là giao kính tại công trình hay nghiệm thu hoàn thành lắp đặt. Biên bản giao hàng chủ yếu ghi nhận hàng đến và tình trạng tại thời điểm nhận; biên bản nghiệm thu thi công còn xem xét vị trí lắp, phụ kiện, độ hoàn thiện, khả năng vận hành và các yêu cầu đã thống nhất. Hai mốc không nên dùng thay cho nhau nếu hợp đồng quy định khác biệt.

Khi hủy đơn hoặc không thể tiếp tục thực hiện, trước hết phải xác định khoản đã chuyển là đặt cọc nhằm bảo đảm nghĩa vụ hay thanh toán trước cho giá trị hàng hóa, dịch vụ. Việc hoàn, giữ lại hoặc khấu trừ cần căn cứ thỏa thuận, quy định áp dụng, công việc thực tế đã làm, vật tư đã sử dụng và nguyên nhân không thể tiếp tục. Kính sản xuất theo kích thước riêng có thể đã phát sinh chi phí khác hàng tiêu chuẩn chưa gia công, nhưng không thể vì vậy áp dụng một tỷ lệ khấu trừ cố định cho mọi trường hợp. Văn bản xử lý nên ghi số tiền đã nhận, từng khoản được đối chiếu, chứng từ hỗ trợ, số tiền hoàn hoặc còn phải thanh toán, thời hạn và phương thức thực hiện.

Nếu có tranh chấp về sai quy cách, hư hại hoặc tiến độ, hồ sơ nên được tập hợp theo trình tự thời gian: báo giá, bản vẽ và phiên bản điều chỉnh đã duyệt, xác nhận thanh toán, chứng từ giao từng đợt, ảnh hiện trường và các biên bản có ngày, người ký rõ ràng. Trường hợp chỉ một hạng mục còn vướng mắc, biên bản nên chỉ đúng hạng mục đó và phần giá trị liên quan, thay vì ghi chung rằng toàn bộ đơn hàng “chưa hoàn thành”. Cách ghi cụ thể giúp hai bên xác định việc cần làm tiếp theo—kiểm tra, sửa chữa, sản xuất thay thế hay điều chỉnh thanh toán—mà không nhầm lẫn giữa hàng đã nhận, hàng chưa được chấp nhận và công việc lắp đặt chưa nghiệm thu.

Công ty Ngọc Quyết chuyên phân phối kính xây dựng cho đại lý kính, thợ nhôm kính, xưởng gia công và công trình. Với đơn hàng số lượng lớn, khách hàng nên cung cấp loại kính, độ dày, kích thước, số lượng và địa điểm nhận hàng để được tư vấn cấu hình và báo giá phù hợp. Cần báo giá kính chính xác cho đơn hàng? Gửi loại kính + độ dày + kích thước + số lượng + địa điểm giao hàng. HOTLINE / ZALO: 0966.321.655

Hợp tác phân phối kính

Công ty Ngọc Quyết hợp tác với Hailong Glass

Công ty Ngọc Quyết là đại diện nhà phân phối kính Hailong Glass, đồng hành kết nối khách hàng với các sản phẩm kính và thông tin giải pháp từ thương hiệu.

Đại diện Công ty Ngọc Quyết chụp ảnh cùng Hailong Glass
Đại diện Công ty Ngọc Quyết gặp gỡ đội ngũ Hailong Glass trong buổi giao lưu và kết nối hợp tác.

Kết nối đối tác, đồng hành cùng khách hàng

Sự hợp tác giữa Công ty Ngọc Quyết và Hailong Glass tạo thêm một đầu mối phân phối để khách hàng tìm hiểu, trao đổi nhu cầu và lựa chọn sản phẩm kính phù hợp cho công trình. Hai bên cùng hướng tới quá trình tư vấn rõ ràng, phối hợp sát với nhu cầu thực tế và xây dựng mối quan hệ hợp tác bền vững.

Trong khuôn khổ hoạt động kết nối, đại diện Ngọc Quyết tham quan không gian trưng bày, tìm hiểu các dòng kính và trực tiếp trao đổi với đội ngũ Hailong Glass về sản phẩm cũng như hoạt động tại nhà máy.

Đại diện đối tác tham quan khu vực trưng bày Hailong Glass
Tham quan khu trưng bày Hailong Glass, nơi giới thiệu thương hiệu và các mẫu kính đa dạng.
Đoàn khách tham quan nhà máy và tìm hiểu quy trình kỹ thuật sản xuất kính
Đoàn tham quan nhà máy, tìm hiểu khu vực sản xuất và hoạt động kỹ thuật của Hailong Glass.
Đại diện Hailong Glass giới thiệu thông tin dự án trong buổi gặp gỡ
Đại diện Hailong Glass chia sẻ thông tin về dự án và sản phẩm trong buổi gặp gỡ đối tác.
Đại diện đối tác tại không gian giới thiệu các mẫu kính Hailong Glass
Không gian trưng bày giúp khách hàng và đối tác trực tiếp quan sát các mẫu kính.

Công ty Ngọc Quyết — đại diện nhà phân phối kính Hailong Glass, sẵn sàng đồng hành cùng khách hàng trong quá trình tìm hiểu và lựa chọn sản phẩm cho công trình.

LỢI THẾ  CHẤT LƯỢNG AN TOÀN GIÁ HỢP LÝ
Lý do bạn nên kính chất lượng an toàn ngay từ đầu cho gia đình mình
KẾT NỐI ZALO TRỰC TIẾP 0966 321 655
Khám phá sản phẩm Care For - Live Your Dream
HOTLINE TƯ VẤN 0966 321 655
Chuyên gia tư vấn Care For - Live Your Dream

ĐẶT HÀNG GỬI THÔNG TIN 

Liên hệ

Hà NộiHồ Chí MinhHải PhòngQuảng Ninh
Gửi liên hệ
HÌNH DỰ ẢNH DỰ ÁN CUNG CẤP KÍNH
“Niềm tin của khách hàng là động lực để Ngọc Quyết phát triển mỗi ngày. Chân thành cảm ơn Quý khách hàng và đối tác đã luôn tin tưởng, đồng hành cùng Ngọc Quyết. Chúng tôi cam kết không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, mang đến sự phục vụ tốt nhất cho khách hàng.”
NGỌC QUYẾT 
Với bề dày kinh nghiệm hơn 20 năm trong lĩnh vực kính xây dựng, chuyên phân phối kính xây dựng cho đại lý, thợ nhôm kính và công trình.”
Hotline : 0966.321.655
Tư vấn chuyên nghiệp
Sự thành công bắt nguồn từ khâu chuẩn bị, chúng tôi luôn tư vấn cho khách hàng giải pháp phù hợp nhất với yêu cầu công trình
Hỗ trợ kỹ thuật nhanh chóng
Với lợi thế về đội ngũ, chúng tôi luôn đảm bảo hỗ trợ kỹ thuật nhanh chóng và chính xác.
Công ty ngọc quyết 
Chính sách vận chuyển tận công trình 
Chính sách đổi trả hàng 24h- 48h
Chính sách bảo hành nếu có 
CUNG CẤP KÍNH TOÀN QUỐC 
Đội ngũ Công ty Ngọc Quyết chuyên phân phối kính xây dựng cho đại lý, thợ nhôm kính và công trình.”

KÍNH HẢI LONG

Nhà phân phối chính thức của Công ty Sản xuất Kính Hải Long

Kính Hải Long

Chúng tôi Công Ty Ngọc Quyết là đại lý phân phối chính thức của Công ty Sản xuất Kính Hải Long – cung cấp, gia công và thi công kính cường lực, kính dán, kính hộp, kính Low-E cho công trình dân dụng và dự án.

Bản đồ

Ghé thăm showroom  Kính Hải Long

Chỉ đường

Hệ thống văn phòng & nhà máy

Văn phòng miền Bắc

230/34 Phố Định Công Thượng, Hoàng Mai, Hà Nội

0966 321 655

Nhà máy sản xuất

KCN Hà Bình Phương, Thường Tín, Hà Nội

0966 321 655

Văn phòng A6

Sun Hà Nam

0966 321 655

Hà Nội

369 Nguyễn Trãi, P. Khương Đình, Hà Nội

0966 321 655

Hà Nội

315A Trần Khát Chân, P. Bạch Mai, Hà Nội

0966 321 655

Thái Nguyên

177 Quang Trung, P. Phan Đình Phùng, Thái Nguyên

0966 321 655

Hải Phòng

381 Phố Mới, P. Thủy Nguyên, Hải Phòng

0966 321 655

Quảng Ninh

25 Nguyễn Văn Cừ, P. Hạ Long, Quảng Ninh

0966 321 655

Miền Trung & Miền Nam

Văn phòng đại diện khu vực

0904276720
Thanh toánACB
HDBANKSACOMBANKChuyển khoản
Đã thông báo Bộ Công ThươngDMCA Protected

© 2026 kinhhailong.com.vn – Bảo lưu mọi quyền.